YÊN MÔ THƯỢNG, YÊN MẠC, YÊN MÔ, NINH BÌNH

img
Phả hệ đồ

Phả ký

PHẢ KÝ HAY LÀ GIA SỬ

         Tộc phả là một kho tàng chứa đựng mối quan hệ tình cảm sâu đậm của những người con, người cháu có cùng chung một huyết thống. Là tình cảm thiêng liêng rất tự nhiên, nó vô tình trong tâm trí của mỗi người chúng ta thật là gần gũi, thân thương của một dòng họ mang lại.

         Theo các cụ tiền bối xa xưa, các đời truyền lại, dòng họ Phạm Hữu ta đến Mô Độ xứ này rất sớm, từ những ngày đầu lập ấp, ở đây bao đời và từ đâu di cư về đây cho đến nay không rõ.

         Tụng truyền đời Lý Thánh Tông (1054 – 1072) chiến thuyền chinh phạt Chiêm Thành qua đây

         Gặp cơn bão tố nguy thay, kình ngư cứu giúp đưa ngay sát bờ

         Vua quan thấy sự bất ngờ thủy thần ứng cứu an toàn linh thay

         Làm việc nghĩa ở đất này đền sơ bái lễ thắng ngày tạ ơn

         Quả là đại thắng quân Chiêm trở về phong tặng thủy thần ấp Mô

         Câu Mang Hoàng đế bấy giờ, vua ban tên thụy phụng thờ từ đây

         Đất này, Trần Anh Tông cũng qua đây (1239 – 1314) thắp hương đi dẹp Bồng Nga Chiêm Thành và Triều Trần đã đặt một sở tuần ty ở đây. Năm 1400 nhà Hồ soán ngôi nhà Trần, đến năm 1407 nước Việt bị người Minh đô hộ, Trần Ngỗi về Mô Độ (Ấp Yên Mô), xưng làm hoàng đế (hiệu là Giản Định Đế), đặt niên hiệu là Hưng Khánh tụ tập quân khởi nghĩa nhằm đánh đuổi quân Minh, khôi phục nhà Trần (sử gọi là triều Hậu Trần). Mô Độ chính là tên cũ của đất này, thời Minh thống trị mới đổi tên là Yên Mô, chắc hẳn xã Yên Mô có ưu thế nhiều mặt cho nên tên Yên Mô được dùng cho tên Tổng và cả tên Huyện.

         Dòng họ Phạm Hữu ta trong quá trình phát triển, do không ghi chép để lại nên tính từ đời Nhất Đại Tiên Thủy Tổ Khảo, Phạm Hữu Công, Tự Dũng Đức Phu Quân; Nhất Đại Tiên Thủy Tổ Tỷ Hiệu Từ Thiên Phu Nhân là đời thứ nhất. Cụ đã sinh cơ lập nghiệp trên mảnh đất Mô Độ xứ này (Ấp Yên Mô, Tổng Yên Mô, Huyện Yên Mô, Phủ Trường Yên nay là Làng Yên Mô Thượng, xã Yên Mạc, Huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình) vào thời nhà Lê sơ giai đoạn Lê Thánh Tông Tự là Tư Thành lên ngôi Hoàng đế, xưng làm Thiên Nam Động chủ, đặt niên hiệu là Quang Thuận năm Canh Thìn năm 1460 đến năm 1469, sau đổi thành niên hiệu Hồng Đức năm Canh Dần năm 1470 đến năm 1497.

         Ấp Yên Mô trước đó là một vùng bãi cát bồi:

         “Mênh mông Đông Hải, Tây Hà

         Bắc giáp Cổ Đà, nam giáp Cổ Lâm”

         hình thành mới khoảng 6 – 7 thế kỷ trên bờ vụng bể Thần Phù, nơi nổi tiếng là vụng bể dữ dội, đã đi vào ca dao, dễ không mấy ai không biết:

         “Lênh đênh qua cửa Thần Phù

         Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm”

         Từ thời đầu khởi thủy Ấp Yên Mô có núi sông hùng vĩ, sơn thủy hữu tình, ở trên giải đất hình chữ vương địa linh nhân kiệt, bên Tây có sông Trinh Nữ, bên Đông có sông Càn như hào lũy tuyến quanh khắp quê ta. Phía sau Ấp Yên Mô có các ngọn núi Dắng, với ý nghĩa xưa kia nó vẫn là mục tiêu cho dân làng chài ra khơi bắt hướng quay về (Nay là núi: Bảng, Mũ, Ông Đồ, Tượng). Nơi đây dân di cư đến quần tụ khá đông. Lại là nơi đầu mối con đường thủy độc đạo qua lại Bắc - Nam, cho nên ấp Yên Mô được thuyền bè nghé vào cũng khá tấp nập. Con đê Hồng Đức do vua Lê Thánh Tông cho đắp từ năm 1475 đã đặt ấp Yên Mô từ là ấp bãi, vào trong nội đồng.

           Sau có đê Hồng Đức đời sống dân ở đây mới dần dần ổn định, ngày càng phát triển về kinh tế cũng như văn hóa. Đến triều Lê Bảo Thái năm Canh Tý 1720-1729 ấp Yên Mô chia ra thành làng Yên Mô Thượng và làng Yên Mô Càn. Hiếm có nơi nào như làng Yên Mô Thượng chỉ tính đến đời Lê Cảnh Hưng (1740 – 1786) trong một làng đã có 56 người đạt học vị Sinh đồ (Tú tài), trong đó họ Phạm Hữu ta có cụ Phạm Hữu Quang đời thứ 8, cụ Phạm Hữu Ninh đời thứ 9 đạt học vị Sinh đồ trong bảng danh bia. Có thể nói nơi đây vùng đất địa linh nhân kiệt với nhiều người tài ba có công lớn đóng góp xây dựng quê hương đất nước trên các lĩnh vực.

           Phạm Hữu Tộc ta các cụ tiền bối xa xưa đã ý thức được việc hiếu, lễ, nghĩa nên đã xây dựng ngôi Đàn Đỏ từ sớm, ngay khi về định cư tại xứ Mô Độ này để tôn vinh truyền thống gia đình, dòng tộc, các thế hệ. Trong dòng tộc vẫn lưu truyền, kể lại cho nhau biết qua các đời về câu câu đối Đàn Đỏ.

Phạm tộc vi Mô ấp tự thuỷ

Thử đàn giữ thử hương tịnh truyền

            Nghĩa là:

Họ Phạm ta định cư sớm ở đất xứ Mô Độ này

Khi có làng này họ xây đàn đỏ này truyền mãi về sau

         Ban đầu Đàn Đỏ được xây theo hướng Nam đến năm Kỷ Dậu 1849 Tự Đức nhị niên cụ Phạm Nhữ Di tự Mạnh Thái đời thứ 13 thuộc Đại chi 1, Trung chi 2, “Cụ tổng” cùng các cụ đời 12 – 13 và con cháu trong họ xây quay lại hướng Đàn Đỏ từ Nam sang Tây theo thế “Long chầu, Hổ phục” (Long chầu - Hổ phục có nghiã là rồng nằm uốn khúc và hổ cũng nằm sát đất chịu khuất phục để chầu chủ nhân).

         Đến nay năm Canh Tý 2020 họ ta thống kê sơ bộ: Kể từ đời thứ nhất là cụ Nhất Đại Tiên Thủy Tổ Khảo, Phạm Hữu Công thì ngày nay họ ta đã có con cháu đời thứ 20; có hơn 200 hộ; trên 500 đinh kể người hiện nay có mặt, đang lao động học tập tu trí làm ăn sinh sống ở tại quê và tạm vắng - định cư ở nhiều miền trong nước, có hộ ở nước ngoài.

         Trong mấy thế kỷ qua dòng họ Phạm Hữu ta vẫn luôn luôn giữ được truyền thống đoàn kết, biết thương yêu quí trọng nhau, bảo ban nhau mọi điều hay lẽ phải; người có khó khăn cũng như mỗi khi bị vấp ngã mọi người đều thể hiện lương tâm hướng thiện bảo vệ lấy quan hệ máu thịt của mình. Trải qua cuộc sống phải vật lộn mọi bề để tồn tại và phát triển, nhưng trọng họ mọi người đều sẵn có lòng vị tha, chịu thương chịu khó cần cù lao động, sống có đạo lý, có thủy có chung, xây dựng một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Các cụ cao tuổi và những thành viên không may bị ốm đau, được họ luôn lưu tâm thăm hỏi động viên. Các cháu thanh thiếu niên cũng được thường xuyên nhắc nhở giáo dục, động viên kịp thời. Hàng năm trao những phần thưởng cho các cháu đạt kết quả tốt trong học tập, nhằm khuyến khích các tài năng trẻ mỗi ngày một phát triển lớn mạnh.

         Về mặt xã hội, họ ta cũng rất tự hào. Trải qua bao thời đại họ cũng có những thành viên tham gia công việc của làng, của xã và các cơ quan nhà nước, đảm nhiệm những chức danh được nhà nước và quần chúng nhân dân tín nhiệm, đóng góp vào sự nghiệp chung của quê hương đất nước.

         Từ đó họ Phạm Hữu ta ngày càng phát triển về mọi mặt tích cực trong xã hội. Điểm lại họ ta cũng có nhiều bậc tiền nhân có nhiệt tình và năng lực có học vấn nhất định đã tham gia nhiều lĩnh vực công việc của xã hội ở mỗi một thời đại khác nhau như:

         * Thời kỳ quân chủ (Giai đoạn 1407-1945)

         Cụ Phạm Ngọc Đường, Tự Phúc Bình đời thứ 6 có chức vị cửu khế ở thời chiều Dương Đức “Lê Gia Tông 1672”;

         Cụ Phạm Đăng Sỹ, Tự Đạo Ân đời thứ 7 làm Xã Trưởng “ấm bản” ở thời triều “Lê Hy Tông “ Duy hợp – chính hoà năm canh thân 1680 – 1705;

         Cụ Phạm Hữu Quang, Tiểu Danh Lan tự Đạo Âu đời thứ 8 đỗ đạt học vị Sinh đồ (Tú tài), lấy con gái tri huyện, huyện Đại An “Nhạc phụ húy: Sĩ Doanh”;

         Cụ Phạm Hữu Ninh – Tự Định Chí – Thuỵ nhân nhã, tiểu danh vũ Đời thứ 9 đỗ đạt học vị Sinh đồ (Tú tài), Triều Vĩnh Khánh thìn thụ. Lê Cảnh Hưng 1740 cụ dạy học;

         Cụ Phạm Hữu Vĩ tự Trung Quán nhiêu nam Tiểu danh Đôi đời thứ 10;

         Cụ Phạm Hữu Hiến – Tự Doãn Thăng – Thuỵ bầy lạc - Đời thứ 10  - Chi 2 có năng lực học vấn làm xã trưởng “Lê Hiến Tông – duy diêu. Cảnh Hưng – canh thân 1740 – 1786”;

         Cụ Phạm Hữu Thấu – Tự Thuỷ Phát đời thứ 11  - Chi 2, cụ làm nghề dậy học nên con gái cụ là Phạm Thị Ký lấy ông Phạm Huy Lục sinh ra chi Huyện Phạm Xuân Trường. Phạm Thị Hoạt lấy ông Vũ Đình Cánh làm chức quản cơ quê ở tỉnh Thanh Hoá. Phạm Thị Mai lấy ông Trịnh Đình Trấn lam thông lại tỉnh Hà Nam;

         Đời thứ 11 - Chi  : Cụ Phạm Hữu Du – Tự Xuân Sinh cụ đỗ hương nên gọi cụ Hương ấm;

         Đời thứ 12 - Chi  : Cụ Phạm Hữu Hào – Tự Bần Lạc đỗ Hương;

         Đời thứ 12 - Chi 2: Cụ Phạm Quốc Trinh – Tự Đại Cát xuất đội tỉnh Hải Dương;

         Đời thứ 12 - Chi  : Cụ Phạm Nhữ Cẩn – Làm xã trưởng;

         Đời thứ 13 - Chi 2: Cụ Hữu Đông – Tự Thuỷ Minh làm xã trưởng;

         Đời thứ 13 - Chi  : Cụ Phạm Nhữ Di – Tự Mạnh Thái cụ Tổng;

         Đời thứ 14: Có các ông tham gia công việc làng xã thời phong kiến trước năm 1930 – 1954 dân thường gọi tên gắn với chức danh “làm hoặc mua danh”.

         * Thời kỳ hiện đại (1945 – Nay)

         - Tham gia làm hoạt động đân quân du kích, vệ quốc đoàn:

         Đời thứ 15 - Chi 01: Ông Phạm Tất Cư - Đảng viên hoạt động cách mạng chống Pháp;

         Đời thứ 15 - Chi 03: Ông Phạm Hữu Tiền - Du kích chống Pháp;

         Đời thứ 15 - Chi  : Ông Phạm Hữu Hồng (Bình) - Vệ quốc đoàn – tỉnh Hoà Bình;

         Đời thứ 16 - Chi  : Ông Phạm Hữu Thái - Du kích;

         Đời thứ 16 - Chi  : Ông Phạm Hữu Đức - Vệ quốc đoàn;

         Đời thứ 16 - Chi  : Ông Phạm Hữu Tiễn - Vệ quốc đoàn;

         Đời thứ 16 - Chi  : Ông Phạm Hữu Tửu - Vệ quốc đoàn – Lai Thành;

         Đời thứ 16 - Chi  : Ông Phạm Hữu Dảo - Vệ quốc đoàn;

         Đời thứ 16 - Chi  : Ông Phạm Hữu Công - Vệ quốc đoàn.

         - Các ông tham gia vào bộ đội giai đoạn 1955 đến 1975:

         Chi 1: Ông Vân; Ông Cửu; Ông Lâm; Ông Tỵ; Ông Hải; Ông Hiển.

         Chi 2: Ông Đức; Ông Liêm.

         Chi 3: Ông Hùng; Ông Bình; Ông Minh; Ông Hùng.

         Chi 4: Ông Thị; Ông Khương; Ông Toản; Ông Khang; Ông Ba; Ông Thịnh.

         Chi 5: Ông Thụ.

         Chi 7: Ông Lộc ; Ông Huộng.

         Chi 8 : Ông Long ; Ông Đức ; Ông Nhâm.

         - Các anh hùng liệt sỹ hy sinh bảo vệ tổ quốc:

         Đời thứ 15 - Chi 01: Phạm Tất Cư – Đảng viên hoạt động cách mạng bị bắt giam tại Kim Đài, Kim Sơn, Ninh Bình, tổ chức vượt ngục bị chết đuối – Liệt sỹ chống Pháp;

         Đời thứ 15 - Chi 03: Ông Phạm Hữu Tiền – Chiến sỹ Du kích chiến đấu hy sinh;

         Đời thứ 16 – Chi 01: Ông Phạm Văn Cửu - Liệt sỹ cách mạng chống Mỹ

         Đời thứ 16 - Chi 02: Phạm Ngọc Liêm - Sinh năm 1942; Cấp bậc: Thiếu Tá; Chức vụ: E Phó; Đơn vị: E Bộ 54, F320, QĐ3; Hy sinh: ngày 01/10/1978 (AL 30/8/1978) tại Kompong Cham - Campuchia.

         Đời thứ 16 - Chi    : Ông Phạm Hữu Thái - Chiến sỹ Du kích chiến đấu hy sinh;

         - Bà mẹ Việt Nam anh hùng:

         Họ ta còn đóng góp thành viên tiêu biểu của dòng họ, đã hy sinh là liệt sỹ và có 2 bà mẹ Việt nam anh hùng trên 9 bà mẹ ở toàn xã, trong lúc này toàn huyện Yên Mô có 45 bà mẹ Việt Nam anh hùng. Họ ta có 2 bà mẹ là:

         Bà: Nguyễn Thị Tư  vợ ông: Phạm Văn Tiễn có con là liệt sỹ: Phạm Khương.

         Bà: Phạm Thị Thực vợ ông: Phạm Văn Hồng có con là liệt sỹ: Phạm Xin (Bùi Xin) là con nuôi.

         - Tham gia công tác ở chính quyền địa phương cấp xã:

         Đời thứ 15 - Chi   : Ông Phạm Hữu Bảng - Uỷ viên uỷ ban xã đội trưởng;

         Đời thứ 15 - Chi   : Ông Phạm Hương Toàn - Cán bộ thôn;

         Đời thứ 15 - Chi    : Ông Phạm Hữu Tý - Du kích – Thường vụ Đảng uỷ; Phó chủ tịch UBND xã;

         Đời thứ 15 - Chi    : Ông Phạm Hữu Quân - Xã đội trưởng – Thường vụ Đảng uỷ; Phó chủ tịch UBND xã Lai Thành;

         Đời thứ 16 - Chi    : Ông Phạm Hữu Xin -     Phó công an xã;

         Đời thứ 16 – Chi 2: Ông Phạm Văn Nguyên - Phó bí thư đảng uỷ - Chủ tịch UBND xã Yên Mạc; Bí thư ban chấp hành UBND xã Yên Mạc;

         Đời thứ 16 - Chi    : Ông Phạm Hữu Uýnh - Phó bí thư đảng uỷ; Chủ tịch UBND xã Lai Thành;

         Đời thứ 16 - Chi    : Ông Phạm Hữu Minh - Phó bí thư đảng uỷ – Chủ tịch UBND xã ở Tỉnh Gia Lai.

         Đời thứ 17 - Chi 7: Ông Phạm Văn Thọ - Phó Chủ tịch UBND xã Yên Mạc.

         - Tham gia công tác ở chính quyền địa phương cấp huyện:

         Đời thứ 16 - Chi 1: Ông Phạm Hữu Tuấn (Tuất), thường vụ thị uỷ, thị xã Tam Điệp; Tuyên huấn thị uỷ, Chủ tịch MTTQ thị xã.

         - Tham gia công tác ở chính quyền địa phương cấp tỉnh:

         Đời thứ 16 - Chi 1: Ông Phạm Văn Sơn – Phó Giám đốc sở Nội Vụ, tỉnh Lâm Đồng;

         Đời thứ 17 - Chi 8: Ông Phạm Văn Liệu – Hiệu trưởng trường Cao đẳng thể dục thể thao Thanh Hóa; Phó Hiệu trưởng trường đại học văn hóa thể thao và du lịch; Đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa;

         Đời thứ 17 - Chi 8: Ông Phạm Văn Ngọ - Trưởng phòng cánh sát kinh tế Công an thành phố Hà Nội; Phó Giám đốc Công an quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội;

         - Tham gia công tác các Bộ nghành, cơ quan Trung ương:

         - Đời thứ 16 - Chi 2: Ông Phạm Ngọc Liêm - Trung đoàn phó, Tham mưu trưởng trung đoàn trung đoàn 54 (Pháo binh), Sư đoàn 320, Bộ Quốc phòng - Thiếu Tá quân đội nhân dân Việt Nam;

         - Đời thứ 17 - Chi 2: Ông Phạm Ngọc Anh – Trưởng Ban Tài chính, Kiểm toán nhà nước;

         - Đời thứ 18 - Chi 4: Ông Phạm Văn Cường – Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn cảnh sát đặc nhiệm số 3, Bộ tư lệnh cảnh sát cơ động, Bộ Công an – Trung tá Công an nhân dân.

         - Các ông học hành đỗ đạt trong dòng tộc có học hàm, học vị từ thạc sỹ, tiến sỹ, phó giáo sư, giáo sư:

ĐỜI

CHI

DANH SÁCH ĐỖ ĐẠT

SINH NĂM

TRÌNH ĐỘ

CON ÔNG

 
 

17

1

Phạm Hải Phong

1983

Thạc sỹ

Phạm Trường Sơn

 

17

2

Phạm Ngọc Anh

1977

Tiến sỹ

Phạm Ngọc Liêm

 

17

8

Phạm Văn Liệu

1960

Tiến sỹ

 Phạm Văn Đồng

 

17

8

Phạm Văn Ngọ

1954

Thạc sỹ

 

 

18

4

Phạm Văn Cường

1977

Thạc sỹ

Phạm Văn Túc

 

18

8

Phạm Văn Hiệp

1982

Tiến sỹ

Phạm Văn Hữu