YÊN MÔ THƯỢNG, YÊN MẠC, YÊN MÔ, NINH BÌNH

img
Phả hệ đồ

THỜI KỲ PHÂN CHI

THỦY TỔ DÒNG TỘC

         Thủy Tổ là những người đầu tiên lập ra một dòng tộc, là người có công “khai sơn phá thạch”, khởi đầu cho dòng họ tại một địa phương nhất định. Dòng tộc Phạm Hữu ta cụ Nhất Đại Tiên Thủy Tổ Khảo, Phạm Hữu Công đã sinh cơ lập nghiệp trên mảnh đất Mô Độ (nay là Làng Yên Mô Thượng, xã Yên Mạc, Huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình), theo thời gian, dòng tộc sinh sôi nảy nở, bao gồm nhiều chi ngành, thế hệ nối tiếp thế hệ. Nhưng dòng tộc không chỉ bao gồm những người thuộc thế hệ trước mà cả người cùng thế hệ và cùng thời với nhau, bắt nguồn từ vị thủy tổ chung.

 CÁC BẬC THỦY TỔ ĐỜI THỨ 1 ĐẾN ĐỜI THỨ 9 HỌ PHẠM HỮU

         Đời thứ 1: Nhất Đại Tiên Thủy Tổ Khảo, Phạm Hữu Công, Tự Dũng Đức

         Cụ sinh ra:

         Đời thứ 2:        Tự Dũng Sơn                                      Con trai cụ Dũng Đức

         Đời thứ 3:        Tự Dũng Nghĩa                                   Con trai cả cụ Dũng Sơn

         Đời thứ 3:        (thất lạc thông tin)                              Con trai thứ 2 cụ Dũng Sơn

         Đời thứ 4:        Phạm Hữu Kính, Tự Phúc Tâm          Con trai cả cụ Dũng Nghĩa

         Đời thứ 5:        Phạm Ngọc Tắc, Tự Đức Mạnh          Con trai cả cụ Phúc Tâm

         Đời thứ 6:        Phạm Ngọc Đường, Tự Phúc Bình,    Con trai cả cụ Đức Mạnh

         Đời thứ 7:        Phạm Đăng Sỹ, Tự Đạo Ân                Con trai cả cụ Phúc Bình

         Đời thứ 7:        Phạm Đăng Tường                              Con thứ 2 cụ Phúc Bình

         Đời thứ 8:        Phạm Hữu Quang, Tự Đạo Âu,          Con trai cả cụ Đạo Ân

         Đời thứ 8:        Tổ cô,  Hiệu Hoa Dung Nương          Con gái cụ Đạo Ân, em gái cụ Đạo Âu

         Đời thứ 8:        Phạm Xuân Phương                            Con trai cả cụ Đăng Tường

         Đời thứ 8:        Phạm Đăng Quýnh                             Con thứ cụ Đăng Tường

         Đời thứ 9:        Phạm Hữu Ninh, Tự Định Chí            Con cả cụ Đạo Âu

         Đời thứ 9:        Tổ cô- Hiệu Diệu Thận                       Con gái cụ Đạo Âu

         Đời thứ 9:        Tổ cô- Hường thị Xuân Thanh           Con gái cụ Xuân Phương

         Đời thứ 9:        Phạm Đăng Quang                              Con trai cả cụ Đăng Quýnh

         Đời thứ 9:        Phạm Đăng Kính                                Con thứ 2 cụ Đăng Quýnh

SƠ LƯỢC TỪNG THỜI KỲ PHÂN CHI

         Cụ Nhất Đại Tiên Thủy Tổ Khảo, Phạm Hữu Công, Tự Dũng Đức là đời thứ nhất, sinh ra cụ Tự Dũng Sơn đời thứ 2, cụ Tự Dũng Sơn sinh ra 2 người con 1 cụ là Tự Dũng Nghĩa, còn 1 cụ không rõ đi đâu, con cháu còn hay đã thất tự. Các đời kế tiếp phát triển đinh chỉ thấy trong gia phả ghi mỗi đời có 1 đinh duy trì dòng tộc, đến đời thứ 6 cụ Phạm Ngọc Đường, Tự Phúc Bình mới sinh hạ được 2 người con trai, cụ là người có công xuất chi cho dòng họ.

         Từ đời thứ 6 cụ Phạm Ngọc Đường, Tự Phúc Bình, cụ bà Phạm Thị Nghè sinh hạ được 2 con trai: Cụ thứ nhất: Phạm Đăng Sĩ, Tự Đạo Ân; Cụ thứ hai: Phạm Đăng Tường. Con cháu các cụ đời thứ 7 sau nhiều đời để tiện cho việc giỗ kỵ nên phân ra làm 2 chi:

         Chi 1: Cụ Phạm Đăng Sĩ, Tự Đạo Ân, đời thứ 7 là Tổ chi 1- nay ta suy tôn là cụ Tổ Đại chi 1. Gồm các đời:

         Đời thứ 8:        Phạm Hữu Quang, Tự Đạo Ân

         Đời thứ 8:       Tổ cô   Hoa Dung Nương

         Đời thứ 9:       Cụ Phạm Hữu Ninh, Tự Định Chí, Thụy Ân Nhã

         Đời thứ 9:       Tổ cô   Phạm Dương, Hiệu Diệu Thận

         Đới thứ 10:     Phạm Hữu Vĩ, Tự Trung Quán

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Hiến, Tự Doãn Thăng

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Thưởng

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Thẩm        

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Lăng

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Hằng

         Chi 2: Cụ Phạm Đăng Tường, đời thứ 7- Là cụ Tổ chi 2- nay ta suy tôn là cụ Tổ Đại chi 2. Gồm các đời:

         Đời thứ 8:        Phạm Xuân Phương

         Đời thứ 8:       Phạm Đăng Quýnh

         Đời thứ 9:        Tổ cô Hường Thị Xuân Thanh, con gái cụ Xuân Phương

         Đời thứ 9:       Phạm Đăng Quang, con trai cả cụ Đăng Quýnh

         Đời thứ 9:       Phạm Đăng Kính, con trai thứ cụ Đăng Quýnh

         Đời thứ 10:     Phạm Đăng Trường, con trai cụ Đăng Quang

         Đời thứ 10:     Phạm Đăng Minh, con trai cụ Đăng Kính

         Sau đến thế kỷ 19-20, số đinh trong họ phát triển, số đời lại tăng lên, nên con cháu các đời 14 -  15 lại tự phân ra các ngành các chi nhỏ để tiện cho việc giỗ kỵ. Do vậy suy tôn các cụ đời thứ 10 lên là các cụ tổ của mỗi chi (gọi là Tổ Trung chi).

         Như vậy Đại chi 1 có 6 Trung chi, là từ Trung chi 1 đến Trung chi 6; Đại chi 2 có 2 Trung chi là từ Trung chi 7 đến Trung chi 8; Cả họ có 8 Trung chi như sau:

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Vĩ, Tự Trung Quán        Con trai cả cụ Định Chí

         Thuộc Đại chi 1 - Tổ Trung chi 1, đời thập đại truyền đến đời thập ngũ đại. Trưởng tộc, Trưởng đại chi 1, Trưởng trung chi 1: Phạm Mùi phụng tự.

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Hiến, Tự Doãn Thăng   Con trai thứ 2 cụ Định Chí.

         Thuộc Đại chi 1 - Tổ Trung chi 2, đời Thập ngũ đại truyền đến đời thập ngũ đại Phạm Y phụng tự.

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Thưởng                           Con trai thứ 3 cụ Định Chí.

         Thuộc Đại chi 1 - Tổ Trung chi 3, đời thập đại truyền đến đời thập ngũ đại Phạm Thuyết phụng tự.

         Đời thứ 10:     Phạm Hữu Thẩm                              Con trai thứ 4 cụ Định Chí

         Thuộc Đại chi 1 - Tổ Trung chi 4, đời thập đại truyền đến đời thập ngũ đại Phạm Ngọc phụng tự.

Ông Ngọc đi xa không rõ, em trai ông Ngọc là ông Hồng đi bộ đội lấy vợ phố Xấu tỉnh Hoà Bình, có 2 con trai là ông Hùng và ông Dũng định cư ở phố Xấu- Hoà Bình.

         Đời thứ 10:     Ông Phạm Hữu Lăng                       Con trai thứ 5 cụ Định Chí

         Thuộc Đại chi 1 - Tổ Trung chi 5, đời thập đại truyền đến đời thập ngũ đại Phạm Mẫn (Nhuẫn) phụng tự.

         Đời thứ 10:     Ông Phạm Hữu Hằng (Hoàn)          Con thứ 6 cụ Định Chí

         Thuộc Đại chi 1 - Tổ Trung chi 6, đời thập đại truyền đến đời thập ngũ đại Phạm Đức phụng tự. Ông không có con trai.

         Nay chi này con trai ông Xuân, là ông Sinh, ông Mạnh ở Tuyên Quang.

         Con ông còn ở Lai Thành

         Đời 10:            Cụ Đăng Trường                               Con trai cụ Đăng Quang

         Thuộc Đại chi 2 - Tổ Trung chi 7, đời thập đại truyền đến đời thập ngũ đại Phạm Đễ phụng tự.

         Chi 7 này ông Đễ có con trai đi làm ăn xa không rõ.

         Đời thứ 10:     Cụ Đăng Minh                                   Con trai cụ Đăng Kính

         Thuộc Đại chi 2 - Tổ Trung chi 8, đời thập đại truyền đến đời thập ngũ đại Phạm Kim phụng tự.

         Chi này ông Kim đi làm ăn xa, ông có con trai là Đồng ở Thanh Hoá.

         Con cháu ông Kiềm gọi ông Kim là Bác- Phụng sự.

         Tóm lại, Phạm Hữu Tộc có 8 Trung chi, hội đồng gia tộc thống nhất cách gọi 8 Trung chi thành 8 chi: Chi 1, Chi 2, Chi 3, Chi 4, Chi 5, Chi 6, Chi 7, Chi 8.